Kĩ thuật cấy mỡ làm đầy mặt

Rất ít chất làm đầy đem lại độ đa dụng, bền bỉ và an toàn như mỡ tự thân. Mỡ rất phù hợp với các bệnh nhân có mong muốn được cải thiện đường nét và độ căng và thường là lựa chọn kinh tế nhất cho việc cải thiện một khuôn mặt già nua và rãnh lõm. Việc hiểu được khái niệm mức độ lão hóa của một khuôn mặt rất quan trọng đối với độ thành công của bất cứ loại chất làm đầy nào, nhất là với loại chất bền bỉ như mỡ tự thân.

Khi còn trẻ, mỡ mặt trải đều, nhiều và rất cân bằng. Tuy nhiên, khi có tuổi, mỡ mặt sẽ trở nên thiếu cân bằng hơn, làm lộ ra những vùng có thừa và thiếu mỡ. Những thay đổi này hình thành theo những trật tự có sẵn và thường gắn liền với thay đổi mỡ tổng thể; hay nói cách khác, tại vùng mặt, cũng như tại vùng thân, việc tăng lượng mỡ sẽ dẫn đến việc hình thành các tụ mỡ hoặc mỡ lồi tại một số nơi, và lõm tại một số nơi khác.

Hiện tượng này đã được giải thích trong nghiên cứu giải phẫu gần đây, cho thấy rằng vùng mặt được cấu thành từ các mảng mỡ tách biệt. Do vậy, vùng mặt không hề già đi như một khối mỡ tổng thể mà lại như những vùng mỡ riêng biệt, thậm chí cách khuôn mặt bị lão hóa cũng liên quan đến cách những vùng này lão hóa và tích tụ mỡ. Việc cấy mỡ tự thân vào các vùng lõm (cục bộ hay diện rộng) có thể đem lại cảm giác cân bằng và trẻ trung cho khuôn mặt.

Tuy nhiên, bác sĩ cũng nên tránh việc gây ra tình trạng “quá lồi” (pan-hypertrophied), kết quả của việc khiến vùng từng lõm nay lại ngang hàng với các vùng lồi.  Vi hút mỡ những vùng mỡ lồi (như vùng cằm xị hay vùng cuối rãnh mũi má) rất có giá trị trong việc giảm tình trạng lồi của mỡ tại các vùng này. Người bệnh nên giữ cho mình một cân nặng tương đối. Những bệnh nhân quá cân với quá nhiều vùng mỡ lồi tại mặt, như đã nói ở trên, là những người khó có thể phù hợp cho việc cấy mỡ tự thân.

Bất cập

Điều bất cập của việc cấy mỡ tự thân bao gồm chứng rối loạn đông tự nhiên hoặc do điều trị, rối loạn trao đổi lipid, các bệnh nan y nghiêm trọng, hay nhiễm trùng và suy nội tạng nặng. Bệnh nhân có tiền sử đông máu (thrombosis) tĩnh mạch hay tắc mạch phổi hay bệnh nhân mắc HIV đang điều trị chống Retrovirus cường độ cao nên được theo từng ca riêng biệt. Tất nhiên, bệnh nhân có thể quá gầy nên không có vùng để hiến mỡ mà không để lại rủi ro mắc dị tật hút mỡ do điều trị.

Đánh giá tiền phẫu

Các xét nghiệm tiền phẫu (đếm tổng tế bào máu, tiểu cầu, thành phần hóa học, xét nghiệm đông máu hoặc cầm máu) được tiến hành theo trình tự để đánh giá và ghi nhận sức khỏe của bệnh nhân. Đối với các ca cấy mỡ làm đầy là một phần của các liệu trình phẫu thuật thẩm mỹ mỡ lớn hơn sẽ có thể cần đến xét nghiệm viêm gan hay HIV. Vào ngày thực hiện liệu trình, bệnh nhân nên được tiến hành xét nghiệm thai sản. Bệnh nhân nên được phòng bệnh bằng thuốc cephalexin vào ngày trước khi trích xuất mỡ và 6 ngày liên tục sau đó.

Vùng hiến mỡ sẽ được chọn để đem lại kết quả thẩm mỹ cao nhất. Cả vùng hiến mỡ và vùng mặt đều sẽ được làm sạch bằng xa phòng diệt khuẩn. Vùng hiến và vùng được cấy sẽ được đánh dấu. Tại thời điểm này, việc ghi chép lại lượng mỡ sẽ được cấy, độ thiếu cân xứng ban đầu và vị trí xương đều rất quan trọng.

Kĩ thuật tiến hành

Bệnh nhân còn thức sẽ nằm trên một bàn mổ tiệt trùng trải khăn tiệt trùng. Bác sĩ sẽ tiến hành gây tê cục bộ và rạch một vết mổ dài 1,5mm. Dịch Klein Tumescent sẽ được đưa vào vùng hiến mỡ thông qua một ống thông đường kính 2mm (được hỗ trợ bằng máy bơm) cho đến khi mô đầy dịch hết cỡ. Công thức Klein tumescent bao gồm 1 lít nước muối sinh lý, 1mg epinephrine và 12,5 mili đương lượng Natri Bicacbonat.

Sau 20 đến 30 phút chờ dịch làm mạch máu co thắt hoàn toàn, việc trích xuất mỡ thủ công sẽ được tiến hành bằng cách đưa một ống tiêm luer lock 10ml vào đầu ống thông. Dùng tay thuận kéo ống tiêm trong khi điều chỉnh ống thông lên xuống qua mô mỡ trắng. Đóng nắp ống tiêm khi đã đầy, đem li tâm 3400 vòng trên phút trong 10 đến 2 giây. Ống dịch tầng, bao gồm máu và dịch tumescent sẽ được sàng lọc và mỡ sau ly tâm được truyền vào ống tiêm 1ml trước khi được tiêm lên mặt. Vùng hiến mỡ sẽ được băng bó với băng thấm và băng cố định nhẹ.

Vùng mặt sẽ được gây tê cục bộ với 0,5% lidocaine với epinephrine, tiêm vào mặt thông qua kim tiêm 1 inch, chỉ số G là 30. Theo đó, tác dụng co mạch của việc gây tê cục bộ rất có ích trong việc giảm bầm và ngăn việc thông trúng mạch máu. Chỉ dùng chất cản trở thần kinh khi làm đầy môi.

Mỡ sẽ được cấy bằng ống thông 18G gắn với kim tiêm chứa mỡ 1ml. Tiến hành đục bằng ống tiêm Nocor 18G (Becton, Dickinson & Co., Franklin Lakes, NJ). Đưa mỡ vào dưới da, dưới cơ và lớp cắt trong cơ (nếu có thể) bằng cách tận dụng nhiều vết mổ khác nhau. Mỡ sẽ không được cấy vào dưới màn xương. Đặt lực đều lên ống tiêm thông bằng mô cái tay thuận, để lại một lượng mỡ nhỏ trong khi rút ống thông. Mỗi lần như vậy sẽ để lại 0.1ml mỡ tại các lỗ thông mới.

Trán, chân mày và thái dương

Các đường mổ được rạch tại các khoảng trống dọc chân tóc tại vủng trán. Việc cấy mỡ sẽ được thực hiện phía trên mạc trên sọ, dưới da và trong cơ. Cấy mỡ theo hướng về phía và vuông góc với chân mày, với 0,1ml mỡ mỗi ống thông. Những lằn mỡ sẽ hình thành ngay tức khắc và nên được mát-xa cho mất đi. Thông thường sẽ cần đến thêm một vết mỗ thêm tại giữa trán để làm đầy điểm giữa trên gốc mũi và gốc mũi. Sẽ cần từ 8 – 15ml mỡ để đem lại hiệu quả cân đối và mịn màng. Cấy mỡ vùng thái dương sẽ được thực hiện thông qua một vết mổ tại chân tóc trên hố thái dương hoặc tại vết mổ trên xương gò má. Ống thông cong Amar số 7 sẽ rất phù hợp trong việc tiến vào dưới và trong cơ thái dương. Thông thường sẽ cần từ 2- 4 ml mỡ để cải thiện vùng thái dương.

Mục đích của việc cải thiện vùng mày là để hạ nếp mí và kéo cong chân mày lên cao và tới trước, giúp kéo nâng da vùng mí. Tiếp cận mí trên thông qua đường mổ dưới chân mày. Mỡ sẽ được cấy vào nếp mí dưới dạng giọt 0.1ml và kéo đuôi giọt mỡ lên trên. Trung bình một chân mày sẽ tốn 1ml mỡ.

Dưới hốc mắt

Việc cấy mỡ làm đầy mô hốc mắt sẽ làm “mịn” các đường nét khuôn mặt, giấu đi hình ảnh xương xẩu và “trải” phẳng da thừa bằng cách đẩy cong các mô mềm ra phía trước. Có hai loại biến thể của việc lão hóa hốc mắt: lõm xuống hoặc trồi lên. Lão hóa lõm xảy ra khi mỡ từ hốc mắt trên xuống hốc mắt dưới bị mất. Việc này dẫn đến hình ảnh vô hồn nơi hốc mắt. Trong khi đó, lão hóa trồi hốc mắt do việc lõm má làm lộ ra lượng mỡ dai trồi tại hốc mắt.

Lão hóa trồi hốc mắt luôn đi kèm với biến dạng rãnh lệ tại điểm tiêm vùng giao nhau giữa vách ngăn ổ mắt và màng xương. Rạch một vết mổ tại  để điều trị cả việc biến dạng rãnh lệ trong khi lão hóa trồi hốc mắt và vùng rỗng hốc mắt đối với loại lõm. Viền hốc mắt sẽ được nắn và mắt sẽ được bảo vệ bởi tay không thuận của bác sĩ trong khi mỡ tiến đến mốc viền hốc mắt. Việc tiêm mỡ sẽ được thực hiện phía trên vùng giao nhau giữa vách ngăn ổ mắt và màng xương và không hề đụng chạm đến vách ngăn hốc mắt. Các “hạt” mỡ sẽ được trải với ít hơn 0,1ml mỗi hạt, đi từ phía trong ra ngoài, bắt đầu từ lát cắt sâu cho đến tận phía cơ gò má và tiến qua vùng cơ cho tới phía trong vùng mỡ dưới da đến khi đạt được kết quả như mong muốn.

Để cải thiện hốc mắt lõm, mỡ sẽ được đặt sâu bên trong vùng cơ vòng mi, nằm ngay phía trên viền hốc mắt. Cách đơn giản nhất để tiến vào dưới vùng cơ này là thông qua hướng tiếp tuyến, đảm bảo để lại ít vết bầm hơn. Mỡ sẽ không bao giờ được cấy ngang vào vùng dưới hốc mắt do rủi ro gây ra rãnh và lồi mỡ. Lượng mỡ từ khoảng 1 đến 4ml sẽ được cấy vào nhiều lớp (dưới cơ, trong cơ và dưới da) tùy vào độ rộng của vùng và mức độ làm đầy cần đạt được. Tuy nhiên, luôn phải giữ lượng mỡ tại vùng trên viền hốc mắt ít hon hoặc bằng 1ml.

Vùng má

Khi giải phẫu mặt, vùng má sẽ được chia làm 4 vùng: (1) tâm gò má, (2) xương gò má ngoài, (3) hốc má, (4) má ngoài. Từ đường mỡ từ 5 – 7ml sẽ được cấy quanh vùng cơ gò má và vào vùng mỡ dưới da thông qua một vết mổ tại phía ngoài rãnh mũi má. Thông thường, một đường mổ thứ hai sẽ được rạch tại phía ngoài xương má để cắt chéo vùng này và tối ưu lượng mỡ được đưa vào sâu phía trong tâm má, tạo thành một kết cấu rỗ 3 chiều. Đường mổ này cùng thường được dùng cho việc cải thiện vùng xương gò má hốc mắt chìm ngoài.

Kết cấu sợi của vùng má trong khiến việc cấy mỡ trở nên khó khăn. Do vậy, phải rất cẩn trọng trong việc cắt chéo và trải đều lượng mỡ từ 3 – 5ml trong nhiều lần, cũng như đặc biệt chú ý đến việc đưa mỡ vào phía trong đường tuyến mang tai để ngăn việc các mô tụ lại phía ngoài khi bệnh nhân cười. Ngoài ra, vùng phía trước tai tại má ngoài nên được cấy 4 – 5ml mỡ để cân bằng khuôn mặt, ngăn việc việc tâm má bệnh nhân trông quá đầy đặn.

Cằm và hàm

Đường hàm không chỉ được cấy mỡ tại lớp cắt trên và còn ở lớp dưới bằng cách cấy mỡ quanh hàm. Vùng mặt này được tiến hành thông qua nhiều vết mổ khác nhau, vuông góc với hàm, trải đều phía dưới và ngoài để mỡ dừng 1cm ngay dưới xương tại vùng phía trên cổ. Việc này không chỉ giúp tạo đường nét cho khuôn hàm mà còn tạo cảm giác “mượn” da từ cổ. Vùng dưới cằm và tiền cằm xị thường được cấy mỡ chung một cách, tạo thành một tấm nạng để hỗ trợ vùng cằm và tách nó khỏi vùng cao nhất tâm má. Có thể tiêm tối da 20ml mỡ tự thân tại đường hàm và cằm.

Rãnh mũi má và rãnh môi cằm

Mỡ là chưa đủ để cải thiện vùng rãnh mũi má. Thay vào đó, mỡ sẽ được cấy dọc theo rãnh thông qua vết mổ phía ngoài nếp, hòa vào vùng da dưới môi. Tương tự như vậy, việc điều trị rãnh môi cằm cũng sẽ cần đến việc cấy mỡ thông qua một vết mổ phía ngoài hoặc trong rãnh, làm đầy toàn bộ vùng trước cằm để hỗ trợ vùng môi dưới. Thông thường sẽ cần từ 1 – 2 ml mỡ môi bên rãnh.

Môi

Việc làm đầy môi với mỡ thường rất ít khi đem lại hiệu quả vĩnh viễn. Tuy nhiên, đôi lúc kết quả đem lại cũng rất tốt nên bệnh nhân thường được khuyến khích cấy mỡ môi nếu họ tính làm các vùng khác trên mặt. Việc tiếp cận môi thông qua một đường mổ ngoài rãnh mũi má là cách tốt nhất để làm đầy vùng da môi. Mỡ thường được cấy dưới lớp màng nhầy lên tới vùng môi. Phần môi dưới cũng sẽ được trải qua thủ thuật tương tự bằng một đường mổ phía ngoài hoặc ngay trên rãnh môi cằm. Cần phải tránh việc cấy mỡ quá mức vùng môi do điều này dẫn đến việc sưng lâu dài. Thay vì thế, việc cấy mỡ môi sẽ được tiến hành cho đến khi nhận thấy rằng kết quả cuối cùng hiện ra, tức sẽ cần khoàng từ 0,5 đến 2ml mỡ mỗi môi.

Cấy mỡ đã xử lý

Việc cấy mỡ đã qua xử lý sẽ giúp kiểm soát kết quả đầu ra tốt hơn và đảm bảo không dẫn đến việc điều chỉnh quá mức. Mỡ đông lạnh là cách đơn giản nhất để đạt được ý đồ này, cũng như cho ra các hướng chỉnh sửa dễ tiên đoán. Việc chỉ sử dụng mỡ đông lạnh đem lại kết quả lâu dài. Tuy nhiên, các dẫn chứng khoa học việc tuổi thọ và khả năng tồn tại của mỡ đông lạnh vẫn còn thiếu. Các nghiên cứu trên động vật vừa ủng hộ vừa chống lại khả năng tồn tại của mỡ đông lạnh. Chỉ có duy nhất một nghiên cứu lâm sàng vừa chủ quan vừa mù quán trên con người so sánh các kết quả thẩm mỹ giữa mỡ tươi và mỡ đông lạnh tại vùng bàn tay ngửa của 10 bệnh nhân. Trong vòng 5 tháng, mỡ đông lạnh đều cho thấy hiệu quả tốt hơn.

Tại môi trường cấy mỡ, mỡ đã được ly tâm và tách dịch tumescent sẽ được làm lạnh trong ống tiêm 10ml. Trong ống tiêm sẽ chỉ có mỡ trung tính do chúng sở hữu tính chất chống đông lạnh tương tự như glycerol. Mỗi ống tiêm sẽ được dán nhãn tên bệnh nhân, số An sinh và ngày trích xuất mỡ. Những ống tiêm này sẽ được đóng túi đôi lạnh (với tất cả thông tin kể trên) và đặt trong máy làm đông thương mại ở nhiệt độ -20 độ C. Các máy đông này đều có gắn còi báo động và kết nối với máy phát điện. Mỡ sẽ được trữ tối đa 24 tháng. Tại thời điểm tái cấy mỡ, các thông tin trên ống tiêm sẽ được xác nhận lại với bệnh nhân (điều dưỡng sẽ đọc), đối chiếu với bệnh án và cập nhật bệnh án. Kim tiêm đông lạnh sẽ được bỏ vào trong găng tay y tế và chạm vào người bệnh nhân để rã đông cấp tốc. Mỡ sau đó sẽ được chuyển vào ống tiêm 1ml để cấy.

Biến chứng

Các biến chứng phổ biến nhất là bầm máu, chứng phù thủng và dị nét. Sẹo mổ, chuyển hóa sắt trong máu, nang mỡ dưới da, chỉnh hình quá mức cũng như chỉnh chưa đủ. Tuy rất hiếm, nhưng các tụ lồi tách biệt có thể được quan sát tại vùng hốc mắt. Dị nét bao gồm lồi hay rãnh mỡ hốc mắt, có thể sửa lại bằng cách làm đầy vùng quanh dị nét hoặc đẩy ống thông vào vùng dị nét, qua đó điều chỉnh hoặc hút mỡ tại đó. Có thể tiêm 2 – 4 mg/ml Dilute triamcinolone vào vùng thừa mỡ để làm lõm chúng. Các nang mỡ lồi có thể được cắt bỏ hoặc ép dịch dầu tiệt trùng ra.

Đã từng có 1 bệnh nhân mắc biến chứng nhiễm trùng vùng hiến mỡ do viêm mô tế bào bởi vi khuẩn streptococcus từ quy trình này, dẫn đến việc phải ở lại viện và tiêm kháng sinh tĩnh mạch, trong khi một bệnh nhân thì mắc viêm mô tế bào tay và được điều trị bằng cách uống kháng sinh. Một bệnh nhân bị lồi mỡ cấy tại vùng má và được điều trị bằng cách hút mỡ.  Do các vi khuẩn kháng acid đến từ nguồn nước, việc rửa mặt cho bệnh nhân sau khi kết thúc quy trình bằng nước tiệt trùng rất quan trọng.

Kết luận

Lượng mỡ tồn đọng sau cấy sẽ phụ thuộc vào từng bộ phận cơ thể. Cấy mỡ đem lại tác dụng tốt nhất tại nơi gặp vấn đề mỡ lõm như má, hốc mắt và hàm. Thời gian tồn tại của mỡ khi được áp dụng tại các vùng xương hay màng nhầy lõm (xuất hiện tại vùng hốc mắt) rất khó để dự đoán. Những bệnh nhân mong muốn được cải thiện các vùng mỡ khó tồn tại thường sẽ cần đến các liệu trình sử dụng Axit Hyaluronic, Collagen, hay Canxi Hydroxylapatite; tuy nhiên, những chất làm đầy này khó có thể thay thế sự chuyển đổi mô và kích cỡ khi nâng cấu trúc bằng mỡ.

Nguồn bài viết

https://academic.oup.com/asj/article/28/6/681/225782

(Bản dịch Tiếng Việt được cung cấp bởi BVTM Gangwhoo)

Tác Giả GS.BS Park Sung Yong

GS.BS Park Sung Yong

NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ
TỪ BÁC SĨ




    Bác sĩ Phùng Mạnh Cường tư vấn miễn phí

    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

    0901 666 879 Tư vấn miễn phí