Các rủi ro và biến chứng của túi ngực

Rủi ro của túi ngực

Những biến chứng và hệ quả xấu của việc đặt túi ngực bao gồm:

  • Biến chứng cấy ghép, như đau ngực và thay đổi cảm giác nơi vùng đầu ti và ngực
  • Phẫu thuật thêm, có hoặc không có gỡ bỏ túi ngực
  • Co thắt bao xơ, mô sẹo (bao xơ) hình thành xung quanh túi ngực và ép túi ngực
  • Vỡ hoặc xẹp túi ngực
  • Ung thư lympho ác tính tế bào khổng lồ liên quan tới độn ngực (BIA-ALCL), một loại ung thư lympho ác tính không Hodgkin (ung thư hệ miễn dịch).
  • Bệnh mô liên kết, ung thư vú và các vấn đề sinh sản
  • Các triệu chứng toàn cơ thể
  • Khó khăn khi cho con bú
  • Ảnh hưởng lên trẻ

Các biến chứng từ phẫu thuật cấy ghép

Dưới đây là danh sách các biến chứng và hệ lụy xấu xảy ra trên ít hơn 1% các bệnh nhân đặt túi ngực. Bệnh nhân sẽ cần đến các liệu pháp không phẫu thuật và có phẫu thuật để điều trị các vấn đề này. Ngoài ra, bệnh nhân cũng nên thảo luận về những biến chứng và cách thức điều trị với bác sĩ. Những biến chứng trên được liệt kê theo thứ tự bảng chữ cái (tiếng Anh), không phải theo tỉ lệ xảy ra.

Biến chứng Mô tả
Thiếu đối xứng Ngực không đối xứng cả về kích cỡ, hình dáng và độ cao của ngực.
Đau ngực Đau tại vùng núm và ngực
Mô sẹo lõm tại ngực Da bị co rút
Canxi hóa/Hình thành các khối canxi Các mô lồi dưới da quanh túi ngực/ Khi chụp nhũ ảnh, chúng thường bị nhầm thành ung thư, dẫn đến các ca phẫu thuật thêm.
Co thắt bao xơ Các mô bao xơ xung quanh túi ngực bị thắt chặt lại, dẫn đến việc ngực bị cứng và chắc, thậm chí trong các trường hợp nặng còn gây co bóp túi ngực.
Biến dạng thành ngực Thành ngực hoặc lồng xương sườn bị biến dạng.
Xẹp túi ngực Rò rĩ dịch nước muối (nước muối sinh lý), thường do rò van hoặc vỏ túi bị rách (vỡ túi), dẫn đến việc túi ngực bị xẹp một phần hay hoàn toàn.
Phục hồi chậm Vết mổ không hồi phục như bình thường và tốn nhiều thời gian hồi phục hơn.
Lồi túi Da bị rách dẫn đến việc túi ngực lộ ra ngoài da.
Tụ máu Các khối tụ máu hình thành xung quanh vết mổ. Chúng có thể gây sưng, bầm và đau đớn. Các khối tụ máu thường hình thành ít lâu sau khi phẫu thuật, nhưng có thể xuất hiện bất cứ lúc nào nếu ngực bị chấn thương. Cơ thể có thể hấp thụ các khối máu tụ nhỏ, nhưng những khối máu tụ lớn có thể sẽ cần đến các biện pháp can thiệp y khoa, như hút dịch phẫu.
Chấn thương/Tổn thương do điều trị Các chấn/tổn thương mô hay túi ngực do phẫu thuật cấy ghép gây ra.
Nhiễm trùng, bao gồm “hội chứng sốc độc tố” (Toxic Shock Syndrome). Hội chứng này xảy ra khi vết mỗ bị các vi sinh vật nhâm nhập, ví dụ như vi khuẩn hoặc nấm. Hầu hết các trường hợp nhiễm trùng đều cần phải được phẫu thuật sớm nhất là vài ngày hoặc trong một tuần, nhưng việc nhiễm trùng vẫn hoàn toàn có thể xảy đến bất cứ lúc nào sau khi phẫu thuật. Nếu thuốc kháng sinh không thể trị được vết nhiễm trùng thì sẽ cần phải gỡ bỏ túi ngực.
Viêm/Khó chịu Đây là phản ứng của cơ thể với việc nhiễm trùng hoặc chấn thương. Nổi đỏ, sưng, ấm lên, đau đớn và/hoặc mất cảm giác là các dấu hiệu của nó.
Phù bạch huyết hoặc nổi hạch Các nốt bạch huyết bị sưng hoặc phát triển lớn.
Lệch túi ngực Túi ngực không nằm đúng vị trí tại ngực. Việc này có thể xảy ra trong hoặc sau khi phẫu thuật nếu túi ngực bị di chuyển khỏi bị trí ban đầu. Việc dịch chuyển túi có thể là do nhiều yếu tố như trọng lực, chấn thương hoặc co thắt bao xơ.
Hoại tử Da hoặc mô chết xung quanh ngực. Việc hoại tử có thể do nhiễm trùng, sử dụng Steroid tại khoang đặt túi, hút thuốc, hóa/xạ trị, và điệu trị lạnh hoặc nóng quá mức.
Thay đổi cảm giác nơi đầu ti/ngực Đầu ti và/hoặc ngực bị tăng hoặc giảm kích thích. Triệu chứng này có nhiều mức độ và có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn. Điều này có thể làm ảnh hưởng đến khoái cảm tình dục hoặc việc cho con bú.
Sờ thấy túi ngực Túi ngực có thể được cảm nhận qua da.
Sụp túi Ngực bị trễ thường do lão hóa, có thai hoặc giảm cân.
Nổi đỏ/bầm Chảy máu vùng phẫu có thể dẫn đến việc đổi màu da. Triệu chứng này thường do phẫu thuật và chỉ mang tính tạm thời.
Vỡ túi Vỏ túi bị rách hoặc thủng lỗ.
Tụ huyết thanh Các khối dịch hình thành xung quanh túi ngực. Chúng có thể gây sưng, bầm và đau đớn. Cơ thể có thể hấp thụ các tụ huyết thanh nhỏ. Các tụ lớn sẽ cần phải được hút dịch phẫu.
Ngứa da Bị ngứa trên hoặc xung quanh ngực.
Kích cỡ/kiểu dáng không vừa ý Bệnh nhân hoặc bác sĩ không hài lòng với kết quả dựa trên loại và kích thước của túi ngực.
Lộ túi Có thể thấy được túi ngực qua da.
Nhăn/gợn túi Có thể cảm nhận hoặc thấy được nếp nhăn túi ngực qua da.

Phẫu thuật thêm

Túi ngực sẽ không thể tồn tại cả đời. Túi cấy được càng lâu, tỉ lệ sinh ra biến chứng càng cao, với một số trường hợp cần được phẫu thuật thêm. Không có gì đảm bảo rằng bạn sẽ cảm thấy hài lòng với kết quả thẩm mỹ sau khi phẫu bổ sung.

Loại liệu trình phẫu thuật được tiến hành sẽ phụ thuộc vào loại biến chứng xảy đến. Bệnh nhân sẽ cần được phẫu thuật thêm một hoặc nhiều lần xuyên suốt cuộc đời do một hoặc nhiều biến chứng. Một ca phẫu thuật có thể bao gồm nhiều liệu trình. Các quy trình phẫu thuật cần được tiến hành trong các ca phẫu thuật thêm bao gồm:

  • Gỡ túi ngực, có hoặc không có thay thế túi.
  • Gỡ bao xơ hay tháo các mô sẹo xung quanh túi ngực.
  • Tái phẫu sẹo hoặc vết thương, ví dụ như việc phẫu thuật cắt bỏ mô sẹo thừa.
  • Hút tụ máu bằng cách đặt kim tiêm hoặc ống qua da để hút các khối máu.
  • Chỉnh vị trí túi ngực bằng cách mở vết mổ và dịch chuyễn túi.
  • Gỡ sinh thiết hoặt túi nang bằng cách đặt ống tiêm qua da hoặc rạch da để loại bỏ u lồi.

Các lựa chọn gỡ bỏ túi ngực

Sẽ có hai cách chính để loại bỏ túi ngực nếu bệnh nhân quyết định gỡ bỏ túi ngực hoặc do yêu cầu về mặt sức khỏe. Bác sĩ thẩm mỹ có thể sẽ chỉ loại bỏ túi ngực và để nguyên mô sẹo quanh túi trong cơ thể, thứ được gọi là bao xơ sẹo, Phương án này sẽ ít cần đến phẫu thuật mổ xẻ, dẫn đến ít các rủi ro biến chứng cục bộ như chảy máu hơn. Đối với cách còn lại, bác sĩ sẽ loại bỏ bao xơ sẹo khi gỡ bỏ túi ngực. Cách này còn có tên gọi là “phẫu thuật một khối” (en-bloc resection). Bạn nên thảo luận phương thức tốt nhất dành cho mình khi bàn bạc với bác sĩ.

Nếu bệnh nhân có dấu hiệu của việc mắc BIA-ALCL, như sưng hoặc đau kéo dài, hoặc các thay đổi tại quanh vùng ghép ngực, thì bệnh nhân nên nói chuyện với bác sĩ hoặc phía cung cấp dịch vụ y tế về việc xét nghiệm thêm. Việ xét nghiệm BIA-ALCL thường cần đến một ca xét nghiệm thể chất, chụp hình hay xét nghiệm dịch và mô xung quanh túi ngực. Việc xét nghiệm BIA-ALCL rất quan trọng do nếu chuẩn đoán được BIA-ALCL sẽ làm thay đổi hình thực phẫu thuật cần thiết.

Thông thường, nếu bệnh nhân được chuẩn đoán mắc BIA-ALCL sẽ cần được phẫu thuật gỡ bỏ túi ngực và cắt bỏ các bao xơ sẹo xung quanh, tức nghĩa ca phẫu thuật sẽ kéo dài hơn một ca lấy túi ngực thông thường. Hãy thảo luận với bác sĩ về cách thức gỡ bỏ phù hợp nhất cho bạn.

Phẫu thuật loại bỏ túi ngực, có hoặc không có thay túi, là một trong những loại hình tái phẫu. Tuổi đời của túi ngực sẽ phụ thuộc vào mỗi cá nhân và không thể được tiên đoán trước. Túi ngực sẽ cần được loại bỏ một lúc một lúc nào đó trong cuộc đời bạn do một hoặc nhiều biến chứng cục bộ.

Một số phụ nữ không muốn thay thế túi ngực sau khi đã gỡ bỏ chúng. Những người này có thể bị lõm ngực thiếu thẩm mỹ, lõm thành ngực, nhăn hay trễ ngực.

Một số công ty bảo hiểm sẽ không chi trả chi phí gỡ túi ngực hoặc thay thế túi ngực, kể cả trong trường hợp mắc biến chứng và cả khi đã chi trả phẫu thuật lần một.

Co thắt bao xơ

Co thắt bao xơ là tình trang vùng ngực xung quanh túi bị cứng lại. Nó có thể xảy ra tại mô xung quanh một hoặc cả hai túi. Việc co cứng sẽ khiến các mô bị căng, gây đau đớn.

Co thắt bao xơ thường đi kèm với nhiễm trùng, tụ máu và tụ huyết thanh. Tuy nhiên, nguyên do co thắt bao xơ vẫn chưa được làm rõ.

Có 4 cấp độ co thắt bao xơ, hay còn được biết đến với tên gọi “Thang đo cấp độ Baker”.

Thang đo cấp độ Baker

  • Cấp độ I: Ngực mềm và trông tự nhiên
  • Cấp độ II: Ngực khá cứng nhưng vẫn trông bình thường
  • Cấp độ III: Ngực cứng và trông khác thường
  • Cấp độ IV: Ngực cứng, trông khác thường và gây đau đớn

Co thắt bao xơ cấp độ III và IV thường rất nặng và cần tái phẫu thuật. Quy trình phẫu thuật bao gồm việc tháo túi ngực có hoặc không có thay thế túi ngực. Việc co thắt bao xơ có thể xảy ra ngay cả sau khi đã phẫu thuật chỉnh sửa.

FDA vẫn chưa cấp phép cho việc sử dụng bất cứ thiết bị nào để điều trị và giảm thiểu khả năng xảy ra co thắt bao xơ.

Vỡ hoặc xẹp túi ngực

Vỡ túi ngực là việc xảy ra khi lớp vỏ ngoài túi ngực bị rách hoặc thủng lỗ.

Một số nguyên do gây vỡ túi ngực bao gồm:

  • Co thắt bao xơ
  • Ép ngực lúc chụp nhũ ảnh
  • Tổn thương do dụng cụ phẫu thuật
  • Tổn thương khi thực hiện các quy trình y khoa lên ngực như lấy sinh thiết và hút dịch
  • Túi ngực bị cũ đi
  • Bơm quá đầy hoặc quá ít nước muối sinh lý vào túi ngực
  • Các căng thẳng vật lý như thương tổn hay áp lực thể chất quá sức
  • Đặt túi ngực qua đường mổ chưa được FDA chấp thuận, ví dụ như đường rốn
  • Chạm vào túi ngực quá nhiều khi phẫu thuật

Vỡ hoặc Xẹp Túi ngực bơm nước muối sinh lý

Cụm từ “Vỡ” được sử dụng cho mọi loại túi ngực, nhưng cụm từ “Xẹp” chỉ được sử dụng đối với loại túi bơm nước muối sinh lý. Bệnh nhân và/hoặc bác sĩ có thể axc1 định việc vỡ túi ngực nước muối sinh lý do dịch muối sinh lý bị rò trong cơ thể ngay lập tức hoặc sau vài ngày và làm túi ngực bị xẹp. Bệnh nhân có thể nhận thấy ngực bị mất đi hình dáng và kích thước ban đầu.

Những liệu trình sau KHÔNG được khuyến khích thực hiện với túi ngực nước muối sinh lý được FDA chấp thuận do chúng có thể gây vỡ và xẹp túi:

  • Mổ bao xơ kín – một kĩ thuật được sử dụng để giảm co thắt bao xơ thông qua việc bóp ngực để phá vỡ lớp bao cứng
  • Đưa thuốc hoặc các chất khác vào trong túi ngực thay vì nước muối sinh lý vô trùng
  • Để cho Betadine, một loại thuốc kháng khuẩn cục bộ povidone iodine do công ty Purdue Frederick tiếp xúc với túi ngực
  • Tiêm thông qua vỏ túi ngực
  • Thay đổi túi ngực
  • Chồng túi ngực (Để nhiều hơn một túi ngực trong khoang đặt túi)

Vỡ túi ngực bơm Gel Silicone

Túi ngực Silicone có thể bị vỡ bất cứ lúc nào sau khi phẫu thuật cấy, nhưng túi càng được cấy lâu thì tỉ lệ vỡ túi càng cao.

Nếu túi ngực bơm gel silicone vỡ, bạn và bác sĩ sẽ rất khó để nhận ra điều này do phần lớn trường hợp vỡ túi ngực thường không xuất hiện triệu chứng, hay còn gọi là “vỡ túi im lặng”. Việc vỡ túi im lặng sẽ không làm ảnh hưởng đến ngoại hình và cảm nhận túi, và bác sĩ hoặc phía cung cấp dịch vụ y tế sẽ không thể phát hiện ra việc vỡ túi im lặng thông qua chuẩn đoán vật lý. Chụp ảnh cộng hưởng từ (MRI) là cách hiệu quả nhất để phát hiện vỡ túi bơm gel silicone im lặng.

Tuy nhiên, đôi lúc khi một túi ngực bơm gel Silicone bị vỡ, người phụ nữ có thể nhận thấy sự suy giảm kích thước ngực, thay đổi hình dáng, các cục trồi tại vùng phía trên túi ngực, ngực thiếu cân đối, ngực đau, mềm, nhói, sưng, mất cảm giác, nóng hay thay đổi cảm giác.

Thông thường, khi túi ngực bơm Gel Siliconebị vỡ, lượng gel này sẽ thoát ra thông qua vết rách hay lỗ trên vỏ túi ngực, nhưng sẽ được các mô sẹo bao xơ xung quanh túi ngực giữ lại, hiện tượng này được gọi là vỡ nội nang. Nếu gel vượt qua lớp mô sẹo xung quanh, lúc đấy nó sẽ được gọi là vỡ ngoại nang. Sau khi vỡ túi, đôi khi lượng gel sẽ chảy đến một vùng trong cơ thể, lúc đấy nó sẽ có tên gọi là vỡ ngoại nang với gel luân chuyển. Rất khó để loại bỏ lượng Gel ra khỏi cơ thể sau khi vỡ.

Bệnh Mô Liên Kết, Ung Thư Vú và Các Vấn Đề Sinh Sản

FDA không nhận thấy bất cứ sự liên hệ nào giữa bệnh mô liên kết, ung thư vú và vấn đề sinh sản với túi ngực gel silicone. Tuy nhiên, phía FDA đã nhận được báo cáo về những triệu chứng toàn cơ thể bởi các bệnh nhân có túi ngực bơm nước muối sinh lý hoắc gel silicone. Cần thêm các nghiên cứu lớn và lâu dài hơn để hiểu chính xác những biến chứng này.

Triệu chứng toàn cơ thể (Bệnh túi ngực) (BII)

Các triệu chứng như mệt mỏi, mất trí nhớ, phát ban, suy nghĩ mù mờ và đau khớp có thể liên hệ với túi ngực. Một số bệnh nhân sử dụng cụm từ “bệnh túi ngực” (BII) để miêu tả các triệu chứng trên. Các nhà nghiên cứu vẫn đang tìm hiểu các triệu chứng này để hiểu hơn về chúng. Những triệu chứng kể tên và nguyên nhân mắc chúng vẫn chưa được hiểu rõ. Trong một số trường hợp, việc tháo bỏ túi ngực mà không thay thế bằng túi khác đã đảo ngược các triệu chứng của bệnh túi ngực.

Ung thư lympho ác tính tế bào khổng lồ liên quan tới độn ngực (BIA- ALCL)

Ung thư lympho ác tính tế bào khổng lồ liên quan tới độn ngực (BIA- ALCL) là một chứng tụ bạch huyết tế bào T hình thành sau khi phẫu thuật cấy túi ngực.

Khó khăn khi cho con bú

Một số phụ nữ sau khi nâng ngực có thể cho con bú, nhưng số khác lại không. Những người tiến hành phẫu thuật cắt bỏ ngực và thực hiện phẫu thuật tái cấu trúc ngực sử dụng túi ngực sẽ khó có thể cho con bú tại bên ngực bị cắt bỏ do mất mô ngực và tuyến sữa.

Ảnh hưởng lên trẻ

Ở thời điểm hiện tại, ta vẫn chưa biết được liệu có một lượng nhỏ silicone chảy qua túi ngực vào sữa mẹ khi cho con bú hay không. Tuy vẫn chưa có cách để phát hiện chính xác mức độ silicone có trong sữa mẹ, một nghiên cứu nhằm đo lường silicon (một thành phần trong silicone) không chứng minh được việc trong sữa của người có túi ngực gel silicone có mức độ silicone cao hơn người không có túi ngực.

Ngoài ra, có rất nhiều nỗi lo về các đứa trẻ được chăm sóc bởi người mẹ có túi ngực. Hai nghiên cứu lên người không chứng minh được việc tăng nguy cơ mắc dị tật bẩm sinh của trẻ do người mẹ có cấy túi ngực sinh ra. Tuy tỉ lệ sinh thấp đã được nhắc đến trong nghiên cứu thứ 3, việc này cũng có thể do các yếu tố khác (ví dụ: cân nặng thấp trước khi mang thai) gây ra.

Nguồn bài viết

https://www.fda.gov/medical-devices/breast-implants/risks-and-complications-breast-implants

(Bản dịch tiếng Việt được cung cấp bởi BVTM Gangwhoo)

Tác Giả GS.BS Park Sung Yong

GS.BS Park Sung Yong

NHẬN TƯ VẤN MIỄN PHÍ
TỪ BÁC SĨ




    Bác sĩ Phùng Mạnh Cường tư vấn miễn phí

    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

    0901 666 879 Tư vấn miễn phí